Tiểu sử h́nh thành Tiểu Đoàn 1st Nhẩy Dù

                                                                     

 

Tiểu Đoàn 11 Nhẩy Dù được thành lập ngày 19 tháng 6 năm 1967 do Thiếu Tá Nguyễn Viết Cần làm Tiểu Đoàn Trưởng đầu tiên tại Sài G̣n với huy hiệu Song Kiếm Trấn ải và nằm trong hệ thống chỉ huy chiến thuật của Lữ Đoàn 2 Nhảy Dù. Bản doanh của Tiểu Đoàn 11 là Trại Nguyễn Huệ trên đồi Tăng Nhơn Phú, Thủ Đức. Cũng như các đơn vị nhảy dù kỳ cựu khác, sau khi thành lập và trải qua giai đoạn huấn luyện chiến thuật tại Trung Tâm Huán Luyện Quốc Gia Vạn Kiếp tại Bà Rịa, đơn vị nầy đă được đưa ngay vào chiến trường đang sôi động khắp các mật trận và khắp bốn vùng chiến thuật với nhiệm vụ bảo quốc an dân.

 

Những trận đánh đáng ghi nhớ của TĐ11ND :

-  Ngày 29/1/1968 Tết Mậu Thân, ngay đêm giao thừa trong lúc đang thụ huấn tại TTHL Vạn Kiếp chưa làm lể xuất quân, TĐ11ND đă đánh tan một đơn vị tinh nhuệ cấp Trung Đoàn của VC tấn công vào quân trường nầy…

-   Ngày 5/2/1971 TĐ11ND do Trung Tá Ngô Lê Tỉnh làm Tiểu Đoàn Trưởng được không vận đến Đông Hà Quảng Trị để chuẩn bị tham gia cuộc Hành Quân Hạ Lào Lam Sơn 719.

-   12 giờ trưa ngày 8/2/1971), TĐ11ND được trực thăng vận thả xuống tại một địa điểm được chỉ định nằm cạnh QL9 và cách biên giới Lào Việt khoảng 5 km để thiết lập căn cứ hỏa lực Bravo yểm trợ cho cuộc tiến quân sang Lào.

-  Ngày 4/4/1971, TĐ11ND do Trung Tá Ngô Lê Tĩnh chỉ huy cùng toàn thể LĐ2ND được không vận lên Pleiku từ phi trường Đông Hà bằng phi cơ C141 của Hoa Kỳ tăng phái cho Sư Đoàn 22 Bộ Binh để mở cuộc Hành Quân Quang Trung 22/2 giải tỏa áp lực địch quân quanh Căn Cứ 6 ở Kontum.

-  Ngày 25/3/1972 Tiểu Đoàn 11 Nhẩy Dù do Trung Tá Nguyễn Đ́nh Bảo làm Tiểu Đoàn Trưởng vừa từ Sài G̣n ra Quân Khu II được trực thăng vận đổ ngay vào căn cứ Charlie thay thế TĐ2ND trong trận chiến Mùa Hè Đỏ Lửa tại mặt trận Tây Nguyên. Ngày 12/4/1972 khoảng 11 giờ trưa đạn pháo của địch quân đă đánh trúng vào hầm Trung Tâm Hành Quân của Tiểu Đoàn và Tr/T Nguyễn Đ́nh Bảo đă bị tử thương.

-  Ngày 8/5/1972, Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù do Thiếu Tá Lê Văn Mễ làm TĐT, từ mặt trận Tây Nguyên được không vận đến Phi Trường Phú Bài tăng viện cho mặt trận Quân Khu I, ngay khi vừa đến Huế th́ nhận được lệnh tái chiếm phía Nam sông Mỹ Chánh.

-  Ngày 2 và 3 tháng 6/1972 Tiểu Đoàn 11 đă giao tranh dữ dội với Trung Đoàn 66 CSBV có chiến xa yểm trợ tại bờ Nam sông Mỹ Chánh. TĐ11 đă tiêu diệt hằng trăm quân CS bỏ xác tại trận, bắn cháy 19 chiến xa đủ loại và bắt sống 9 chiến xa khác.

- Ngày 2/7/1972, trong chiến dich Lôi Phong tái chiếm tỉnh Quảng Trị, TĐ11ND do Thiếu Tá Lê Văn Mể TĐT được trực thăng vận đổ xuống phía Bắc Sông Nhung dưới ánh nắng oi bức của mùa Hè đổ lửa làm trục chính cuộc tiến quân của Lữ Đoàn 2 Nhảy Dù do Đại Tá Trần Quốc Lịch chỉ huy, từ Hải Lâm tiến chiếm mục tiêu là nhà thờ La Vang.

-  Ngày 4/4/1975 Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù do Thiếu Tá Nguyễn Văn Thành TĐT, TT Nguyễn Văn Giới TĐP được lệnh khẩn cấp lên đường ra Phan Rang bằng phi cơ C130 và C119 với nhiệm vụ bảo vệ pḥng tuyến Phan Rang.

 

Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 11 Nhẩy Dù :

1-  Thiếu Tá  Nguyễn Viết Cần (1967-1969) từ ngày thành lập đến năm 1969 thuyên chuyển về SĐ 9 BB.

2- Thiếu Tá Ngô Lê Tĩnh (1969- 5/1971) thay thế Trung Tá Nguyễn Viết Cần đến sau trận giải tỏa căn cứ 6 Kontum.

3- Trung Tá Nguyễn Đ́nh Bảo  (5/1971 – 12/4/1972 ) thay thế Trung Tá Ngô Lê Tỉnh sau trận đánh tại Căn Cứ 6 cho đến khi tử trận tại đồi Charlie.

4- Thiếu Tá Lê Văn Mễ (12/4/1972-11/1972) thay thế Trung Tá Nguyễn Đ́nh Bảo tại đồi Charlie đến tháng 11/1972.

5-  Thiếu Tá Nguyễn Văn Thành ( 1972 – 16/4/1975 ) thay thế Trung Tá Lê Văn Mễ tứ tháng 11/1972 đến ngày 16/4/1975 .

 

 

Tài liệu tham khảo:

-    Insignia of  The Republic Of VietNam Airborne Division copyright @ 2002 by Harry F. Pugh

-     Phỏng vấn trực tiếp một số chiến hữu và Niên Trưởng trong SĐND

 

 

Tieu Doan 11 ND TD11ND

Các Sỹ Quan thuộc TĐ11 Nhẩy Dù tại sông Bồ
Từ trái sang phải: Oanh, Dũng, Tuấn, Quân, Thông.

Các Sỹ Quan thuộc TĐ11 Nhẩy Dù tại sông Bồ
Từ trái sang phải: Dũng, Quân, Thông, Tuấn, Oanh

Th Tá Lê Văn Mễ (dơ hai tay)

Và các Sỹ Quan TĐ11